Việc bồi thường có thể do các bên tự thoả thuận định đoạt hoặc các bên phải nhờ đến cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, tiến hành tố tụng dân sự giải quyết theo luật định.
Trong một số trường hợp, người gây ra thiệt hại tài sản cho rằng, tôi làm hư hỏng tài sản và đã bồi thường thoả đáng, vậy cái tôi đã làm hư hỏng phải là của tôi, phải thuộc về tôi.
Ví như: tôi làm hỏng chiếc xe đạp có giá trị 1 triệu đồng, đã đền bù cho người có chiếc xe đạp 1 triệu đồng, thì sau khi đã bồi thường xong, chiếc xe đạp hư hỏng phải là của tôi. Nếu không người có tài sản bị hư hỏng, vừa được bồi thường, vừa được giữ lại tài sản đó. Đây là việc không công bằng.
Làm hư hỏng tài sản, trước hết cần xác định, tài sản trong trường hợp này là vật, nghĩa là vật thể hữu hình, có kích thước, hình dáng, có đặc tính lý hoá và chiếm một thể tích không gian nhất định, như chiếc máy tính cá nhân, chiếc mô tô chẳng hạn.
Làm hư hỏng được hiểu là chưa làm mất đi hoàn toàn tính năng, công dụng của vật đó và phần hư hỏng có thể sửa chữa, khắc phục được; Còn huỷ hoại tài sản là khi chúng ta làm mất hoàn toàn tính năng, công dụng của nó và không thể khắc phục, sửa chữa lại được nữa.
Nói cách khác, làm hư hỏng là làm giảm đi công năng, tính năng sử dụng một phần, còn huỷ hoại tài sản là làm mất đi hoàn toàn và vĩnh viễn tính năng, công dụng của tài sản đó.
Như vậy, làm hư hỏng, thì chỉ phải bồi thường giá trị phần hư hỏng; còn huỷ hoại thì phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản. Đây là lẽ thông thường, ai cũng hiểu.
Một khía cạnh của vấn đề mà chúng tôi tiếp cận là, khi ai đó huỷ hoại tài sản của người khác, họ chấp nhận bồi thường đủ và xong, thì tài sản bị huỷ hoại đó thuộc về ai?
Chúng ta cần hiểu rằng, tuỳ thuộc vào cách thực hiện hành vi trái pháp luật, lỗi của chủ thể, mối quan hệ nhân quả và giá trị tính bằng tiền thiệt hại thực tế đã xảy ra, việc bồi thường thiệt hại được thực hiện bằng pháp luật dân sự hay pháp luật hình sự. Theo luật thực định, các quyền về tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh.
Điều 260 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại.
Khi giải quyết bồi thường thiệt hại bằng pháp luật dân sự, nếu có khởi kiện Toà án sẽ xác định đòi bồi thường, thiệt hại đã xảy ra trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Nếu thiệt hại về tài sản xảy ra trong hợp đồng, thì trước hết, việc bồi thường tài sản đã hư hỏng, phải tuân thủ theo thoả thuận, cam kết của các bên.
Nghĩa là, toà chấp nhận sự định đoạt của các bên, nếu các bên thoả thuận không thực hiện trách nhiệm đã cam kết, thoả thuận trong hợp đồng , thì toà án thụ lý và phân xử việc bồi thường bằng vụ án dân sự.
Trường hợp tài sản bị làm hư hỏng ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại tài sản tuân thủ quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mức bồi thường, bồi thường một lần hay nhiều lần và tài sản đã hư hỏng thuộc bên nào tiếp tục sở hữu, do toà án quyết định, phân xử.
Thông thường, đối với tài sản là vật và thuộc loại không phải đăng ký theo quy định, thì việc thoả thuận, phân xử tài sản này thuộc quyền sở hữu của ai tiếp theo, do các bên thoả thuận, định đoạt hoặc do toà quyết định nếu các bên không định đoạt được.
Nếu tài sản là vật và Nhà nước quy định phải đăng ký, xác định chính thức việc sở hữu, thì việc định đoạt tài sản này, phải tuân theo một số thủ tục liên quan. Đó là khi, ai đó vô ý làm hư hỏng tài sản của người khác, mặc dù các đương sự đã thoả thuận mức đền bù và đã bồi thường xong, bên gây ra thiệt hại muốn lấy lại tài sản đã làm hỏng để làm tài sản của mình, và bên có tài sản cũng đồng ý, nhưng tài sản bị hư hỏng là chiếc xe mô tô, là loại tài sản của Nhà nước quy định phải kê khai đăng ký, quản lý theo luật định.
Do vậy, ý muốn của các đương sự chỉ có thể thực hiện bằng một quan hệ pháp luật khác, là giao dịch dân sự mua bán chuyển nhượng tài sản chiếc xe mô tô này. Ví dụ: A làm hư hỏng chiếc xe mô tô của B.
Chiếc xe này có giá 30 triệu đồng, thiệt hại A gây ra là 2 triệu đồng, A và B thoả thuận A bồi thường cho B số tiền là 2 triệu đồng và bồi thường xong. Nếu A vẫn muốn sở hữu chiếc xe mô tô này, thì phải tham gia giao dịch dân sự bằng hợp đồng mua bán xe mô tô. Chỉ khi B bán, A mua mới làm phát sinh quyền sở hữu tài sản đối với A.
Bồi thường thiệt hại tài sản bằng pháp luật dân sự, cơ quan có thẩm quyền tôn trọng quyền tự quyết định, tự định đoạt của đương sự, với điều kiện các tự định đoạt này không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Như trên đã đề cập, nếu hành vi làm hư hỏng, làm huỷ hoại tài sản cấu thành tội phạm, thì việc xử lý tài sản bị hư hỏng, huỷ hoại do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền thực hiện.
Trong trường hợp này, tài sản có thể là đối tượng tác động của tội phạm, là vật mang dấu vết tội phạm, là vật chứng, nên phải tuân thủ quy định về xử lý vật chứng.
Ví dụ: A cắt trộm đường dây thông tin liên lạc của đơn vị B, toà xử phạt tù, buộc bồi thường thiệt hại cho đơn vị B, nhưng không thể vì A đã bồi thường thiệt hại, A lại được nhận về số dây thông tin bằng kim loại mình đã cắt trộm. Tài sản này là đối tượng tác động của tội phạm. Do vậy, toà án sẽ tuyên tịch thu theo luật định.
Cho đến nay, nhiều nguười vẫn cho rằng, khi gây ra thiệt hại về tài sản cho ai đó, mình đã bồi thường đủ, bồi thường xong, bồi thường bằng giá trị tài sản bị hư hại, thì đương nhiên được lấy tài sản này về cho mình. Đây là nhận thức chưa chính xác.
Bài viết này, xin góp thêm một lý giải, để chúng ta cùng suy nghĩ và điều chỉnh việc xử sự của mình cho thoả đáng với quy định của pháp luật.